Trước đây đã rất nhiều lần nghe thấy cụm từ "Thần kỳ Nhật Bản", "Thần kỳ Châu Á". Cũng chỉ hiểu nôm na rằng những cụm từ đó nói về những quốc gia đã thực hiện chuyển đổi kinh tế thành công hay còn gọi với thuật ngữ bay bổng hơn "Phép màu kinh tế".
Châu Á đã từng là "Vùng đất của rồng", nhiều thế kỷ trước đó là trung tâm quyền lực và kinh tế thế giới. Hơn 2 thế kỷ ngủ vùi, đi sau cuộc Cách mạng công nghiệp của châu Âu, những quốc gia châu Á đã làm thế nào để có thể dần dần lấy lại ánh hào quang trước đó?
Cuốn sách "Thần kỳ Châu Á" sẽ lần lượt kể từng châu chuyện thành công của những quốc gia như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia để biết được họ đã vươn tới thành công ra sao. Những khó khăn họ gặp phải trong quá trình hoá hổ, hoá rồng. Nhờ đó bản thân người đọc như chúng ta sẽ có góc nhìn để so sánh với chính Việt Nam. Việt Nam cũng đang đi theo hình mẫu kinh tế của những con hổ ,con rồng Châu Á trước đó.
Lý Gia Thành từng có lần giải thích: “ Người Hoa chúng tôi có một câu tục ngữ là nếu anh muốn thành công thì dù anh đang kinh doanh thứ gì hay đang đứng ở vị trí nào, anh cũng cần phải biết chấp nhận nhiều ý kiến khác nhau, nhiều con người khác nhau. Vì sao Trường Giang trở thành một con sông lớn? Đó là bởi vì nó biết đón nhận những con sông nhỏ hơn và trở thành vĩ đại". Triết lý này của Lý Gia Thành mang trong mình tư tưởng cởi mở và tự do. Cũng giống như mảnh đất Hongkong là nơi tiếp thu văn minh châu Âu từ nước Anh từ rất sớm.
Hình 1. Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm 1970-1996 của 1 số nền kinh tế châu Á
Những người khởi xướng “Mô hình châu Á" cho rằng hành động của nhà nước đã làm tăng tốc không chỉ tốc độ tăng trưởng của nhiều nền kinh tế châu Á áp dụng mô hình này mà còn góp phần vào sự chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế tới những ngành thâm dụng công nghệ nhiều hơn, có giá trị gia tăng cao hơn. Trong trường hợp của ngành điện tử Đài Loan, lập luận này có vẻ là đúng.
Hình 2. Tập đoàn công nghệ Hoành Kì - Acer (Đài Loan)
Trung Quốc bước vào phép màu bằng cách loại bỏ sự ảnh hưởng của nhà nước lên nền kinh tế thông qua việc phi tập trung hoá tiến trình ra quyết định kinh tế, hạn chế quyền lực của các nhà hoạch định, mở cửa đón đầu tư nước ngoài và cột chặt tương lai nền kinh tế của mình với thương mại quốc tế.
“Sự tụt hậu" sẽ khiến cho chúng ta dễ bị tổn thương trước những kẻ hay ức hiếp, “Đặng Tiểu Bình" nói với Thủ tướng Nhật Masayoshi Ohira năm 1979.
Ở một đất nước đã trải qua cuộc chiến khốc liệt chống lại một cường quốc châu Âu để giành tự do, việc tham gia vào hệ thống kinh tế thị trường tự do bị phương Tây thống trị là điều vô cùng kinh tớm.
Điều này suy cho cùng ý thức hệ, hệ thống chính trị của các nước châu Á đã thay đổi rất nhiều để có thể tiếp thu và học theo mô hình kinh tế phương Tây.
Với trường hợp của Indonesia, quốc đảo này đã có sự kết hợp các khái niệm kinh tế quốc tế với chính nền văn hoá của Indonesia. Điều này tương tự với Trung Quốc khi áp dụng "Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" hay như Việt Nam ta hay có khẩu hiệu "Phát triển một nền kinh tế hoà nhập, không hoà tan, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhìn chung Việt Nam có vẻ còn tương đối mơ hồ.
Hình 3. Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc
Quay lại với Indonesia. Thuật ngữ kinh tế chính họ dùng là "gotong royong", nghĩa là “tương hỗ". Là một nhân tố cơ bản trong đời sống làng xã của Indonesia, "gotong royong" thể hiện cách thức một cộng đồng nông thông cùng chung tay giúp đỡ các thành viên của mình như thế nào, đặc biệt là đối với những người đang trong hoàn cảnh khó khăn cần có sự tương thân tương ái. Những khái niệm này đã “tạo cơ sở hình thành một nếp nghĩ mang tính ‘cây nhà lá vườn' trong định hướng chính sách kinh tế rằng phải có trách nhiệm và quan tâm đến phúc lợi của từng cá nhân. Cách nghĩ này nhìn chung là tương hợp các nguyên lý kinh tế thị trường tự do".
Hình 4. Hình ảnh mô tả cho khái niệm "Gotong-Royong" của Indonesia
Indonesia là một trường hợp khá phức tạp trong các nền kinh tế mới nổi. Đất nước này không chỉ phải đương đầu với khó khăn và xáo trộn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997, mà còn đối mặt với quá trình chuyển đổi khó khăn từ một chế độ độc tài ổn định sang một nền dân chủ tồi tệ, đan xen với các cuộc nổi dậy và nội chiến
Như Fallows lập luận, “mô hình châu Á" đã thành công trong việc giúp Nhật Bản bắt kịp phương Tây nhưng khi kinh tế phát triển và trở nên phức tạp hơn thì những khiếm khuyết của mô hình cũng trở nên nguy hiểm hơn. Như Đặng Tiểu Bình trước đây đã nhận thấy ở Trung Quốc, sự can thiệp của chính phủ làm méo mó cơ cấu tác động khuyến khích của nền kinh tế Nhật Bản.
Có một mẫu số chung hiện diện trong suốt toàn bộ câu chuyện của Phép màu: sức mạnh của sự toàn cầu hoá. Tất cả các quốc gia trải nghiệm Phép màu đều lợi dụng thương mại tự do và công nghệ mới, những yếu tố cho phép sản xuất và dịch vụ được di chuyển đi khắp nơi trên thế giới.
Tuy vậy, những nền kinh tế châu Á mặc dầu hưởng lợi từ sự toàn cầu hoá cũng như mô hình kinh tế tư bản phương Tây. Họ vẫn giữ thái độ còn nghi kị với chính phương Tây:
Với vẻ giận dữ và chua cay, Mahathir (thủ tướng Malaysia) đứng trước giới tinh hoa và ưu tú tài chính thế giới và phát ra một lời đả kích cay nghiệt. Ông nguyền rủa:”Có vẻ như bản năng xưa cũ muốn được lợi mình hại người vẫn còn đâu đây, vẫn còn là nguyên tắc hoạt động của một nhóm những kẻ siêu giàu. Đối với chúng, của cải phải đến từ việc bần cùng hoá người khác.” Ông ám chỉ cuộc Khủng hoảng là một âm mưu dàn dựng của các nước công nghiệp nhằm phá hoại các nền kinh tế châu Á vốn đang trở thành một mối đe doạ đối với vai trò thống trị của phương Tây.
Một châu Á phát triển đồng nghĩa với một nước Mỹ đi xuống. Nhưng cách nghĩ này là sai lầm. Mỹ nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung đã được hưởng lợi từ sự bùng nổ kinh tế to lớn của châu Á cũng nhiều ngang với chính bản thân châu Á. Mỹ sẽ tiếp tục khám phá những lợi ích mới từ Sự thần kỳ khi thiên sử thi về công cuộc tìm kiếm sự thịnh vượng của châu Á vẫn tiếp tục diễn ra, miễn là chúng ta xem một châu Á đang lên là một cơ hội chứ không phải là mối đe doạ, là đối tác chứ không phải là đối thủ cạnh trannh.
Trong khi các nghiên cứu khác nhau đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh quan trọng của phép lạ kinh tế, một vấn đề quan trọng với các nghiên cứu này là có rất ít lĩnh vực đồng thuận mà các nhà hoạch định chính sách có thể rút ra. Thật vậy, trong một số trường hợp, các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những bài học khác nhau. Ví dụ, Ngân hàng Thế giới đã liệt kê sáu bài học mà các quốc gia cần tuân theo, đó là: giữ ổn định kinh tế vĩ mô, chú trọng giáo dục sớm, không bỏ bê nông nghiệp, sử dụng ngân hàng để xây dựng hệ thống tài chính lành mạnh, thông thoáng. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc thúc đẩy xuất khẩu thành công, cho dù là kết quả của các chính sách kinh tế mở hay của các can thiệp chính sách khéo léo, đều mang lại lợi nhuận kinh tế lớn.
Tóm lại, đây là một cuốn sách đáng đọc cho những ai đang học về kinh tế. Những nền kinh tế đã đi trước sẽ để lại nhiều bài học đáng quý để Việt Nam có thể học theo và tự phát triển được một nền kinh tế hiệu quả cao. Tránh được vết xe đổ của những quốc gia đi trước cũng như vươn lên thoát bẫy thu nhập trung bình trong tương lai.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét